Sunday, 20 September 2020

NHƯ GIỌT NƯỚC LÁ SEN

 


Nắng mùa hè ấm áp, giúp cho vườn hoa ở Canada cảnh sắc rực rỡ.  Một hồ sen điểm vài cánh hoa hiếm quí tươi nhuần thanh khiết, làm ấm lòng người thưởng ngoạn. Lá sen màu xanh thẫm, trải khắp mặt hồ, tuyệt đẹp như bức tranh vẽ nghệ thuật. Vài giọt nước nằm yên giữa dòng lá sen tự lúc nào, một làn gió thổi qua, những giọt nước rơi nhẹ xuống mặt hồ. Sự yên tĩnh trong sạch và phẳng lặng của hồ sen, có thể trưởng dưỡng những tâm hồn an tịnh, không tranh chấp, không hơn thua, không phiền não.                

Ai sống trên đời nầy

Tham ái được hàng phục

Sầu khổ tự tiêu diệt 

Như giọt nước lá sen.   

(Kinh Pháp Cú)

Tất cả mọi người trên thế gian đều có chung một số phận "sanh lão bịnh tử", đó là cái khổ lớn của đời người. Con người có sanh ra, tất có già, có bịnh và sẽ đi đến cái chết chắc chắn như vậy. Con người tỉnh thức nhận rõ điều này. Diệu dụng của sự tỉnh thức đưa con người thoát khỏi vô minh, phiền não, khổ đau của luân hồi. 

Căn tánh của chúng sanh không đồng, nên Ðức Phật giáo hóa tùy duyên, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà chỉ dạy nhưng cũng không ngoài một vị giải thoát. Phương pháp tu cốt yếu là giúp con người hiểu biết cách thực hành tinh tấn, tận sức kiên trì, chiến thắng tâm ma cho đến khi đạt được giác ngộ giải thoát, mới mong thoát khỏi đau khổ sanh lão bịnh tử, trở về niết bàn tịch tịnh. Như hoa sen và lá không nhiễm bùn tanh và nước đọng. Diệu dụng của sự tỉnh thức là con đường tu bằng trí tuệ cao thượng để có được kết quả viên mãn.

Ðức Phật dạy: "Chánh pháp là tặng phẩm quí báu nhất. Pháp vị là hương vị đậm đà thanh tịnh nhất. Pháp hỷ là niềm hoan hỷ an lạc cao cả nhất. Ái tận là công đức thù thắng nhất, vì đưa đến quả vị giải thoát tối thượng".

 

Ðệ tử của Như Lai

Luôn sống trong tỉnh thức

Bất luận ngày hay đêm

Tâm không nhiễm ái dục

Thường tu niệm tỉnh giác

Lậu hoặc ắt tiêu trừ.            

(Kinh Pháp Cú)

Chư Tổ ví tâm như nước hồ thu không gợn sóng, trăng soi bóng nước. Như ly nước đầy cáu bẩn, cần thời gian để yên một nơi, cáu bẩn lắng xuống, ly nước được trong dần. Người tu muốn được thấy sự diệu dụng của Phật pháp, cần phải có không gian yên tĩnh thích hợp để hành thiền và tu học. Khi không còn thấy sự yên tĩnh là buồn chán, ly nước cáu bẩn được lọc sạch.

Người sống không thẹn với lòng là người không tìm hạnh phúc trong quyền lực, trong sự tranh đấu hơn thua, bất chấp sự đau khổ của kẻ khác. Chúng ta nhận ra được sự tai hại của lòng tham và ích kỷ sẽ gây thù oán khắp mọi nơi, không có hạnh phúc nào bền vững cả. Cuối cuộc đời là sự tự hủy diệt trong cô đơn và đau khổ.

Người có trí tuệ hàng phục được tham sân si, xa lánh được nhân xấu ác, tâm sáng suốt, sẽ thấy được đâu là hạnh phúc bền vững chân thật. Khi cảm nhận được hạnh phúc xuất thế gian là vô giá, thì đối với họ thắng bại, danh vọng, quyền lực, vật chất không còn là quan trọng nữa.

Chư vị tôn túc thường nói: "Nhịn một câu sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao". Chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Phiền não trên đời như túi đá nặng trên vai, người nào biết buông bỏ xuống thì nhẹ nhàng như cởi mây ngao du sơn thủy.

Vận dụng từ bi để trừ sân hận, hiểu được sự bất tịnh sẽ dẹp trừ tham dục, khai mở trí tuệ phá tan được si mê. Hạnh phúc cao quí là ở nhân phẩm trong sạch và lòng từ ái mà có được. Quá nhiều thủ đoạn và ích kỷ tham cầu cho riêng mình chỉ chuốc lấy khổ đau và thù hận mà thôi.

 

Trong đời sống hiện đại, mật độ dân cư càng tăng, tiện nghi vật chất phục vụ con người càng lôi cuốn hấp dẫn, áp lực đồng tiền càng mạnh. Con đường sa đọa mê đắm đưa nhiều người đến vực thẳm không còn kềm chế được. Nếu họ không thỏa mãn được những tham vọng điên cuồng, hậu quả đưa đến hạnh phúc gia đình tan vỡ, tội lỗi và bất hạnh trước mắt. Lúc đó con người tự hành hạ mình bằng sự sân hận, oán người, hận đời, đôi khi đi đến loạn tâm điên rồ, mất tự chủ và sáng suốt, để rồi việc ác gì cũng dám làm, thật là nguy hiểm vô cùng.

 

Khi nghĩ đến những bất hạnh mà họ phải gánh chịu, với trí tuệ sáng suốt và lòng từ bi, mọi người nên thấy họ đáng thương hơn đáng trách. Chúng ta không khinh khi, cũng không bỏ mặc họ, kiên nhẫn tùy duyên, đúng lúc nào đó có thể sẵn sàng giúp họ bằng tấm lòng khoan dung độ lượng, đưa họ về con đường bình an trong chánh pháp.

 

Muốn có được sự bình an thực sự, con người bớt đòi hỏi vị kỷ, sống đơn giản, xa rời hơn thua tranh chấp, trao giồi đức hạnh, khiêm hạ vô tư, vì người không vì mình, trong tất cả hành động của thân khẩu ý.

 

Sự toàn thiện về thân và tâm chưa đủ, chúng ta còn phải làm nhiều phước thiện. Tâm an lạc hạnh phúc khi mọi người xung quanh đều có hạnh phúc.

 

Tuy lá sen không được nhiều người ca tụng và chiêm ngưỡng như hoa sen tròn vẹn hương sắc, nhưng lá cũng góp phần làm cho cảnh sắc của hồ sen tươi thuần và tăng thêm giá trị thiện pháp cho tâm người biết thưởng ngoạn. 

Người có trí tuệ thấy rõ nhân quả của thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ, thì mới quyết tâm buông bỏ được tham lam, sân hận, và si mê.  

Người giữ được tâm trong sạch, thân đoan chính thanh tịnh, những đam mê của cảnh trần không làm họ dính mắc bận tâm, như giọt nước trên lá sen.

Người tu khi hành đạo thường gặp "bát phong", nghĩa là những sự tôn vinh hay phỉ báng, khen hay chê, sướng hay khổ, lợi dưỡng hay ngược đãi, tất cả đều không màng.  

Bát Phong là tám điều xảy ra trên đời làm tâm con người loạn động bất an, nhưng với người biết cách tu, tâm không bị phiền não chi phối. Bát phong gồm 4 cặp đối nghịch:

Lợi: khi gặp lúc lợi lộc, tâm không ham muốn vui thích.

Suy: khi gặp cảnh suy sụp, bất như ý, tâm không sầu não, bi lụy.

Hủy: khi gặp sự hủy nhục, tâm không sân hận, thù oán.

Dự: khi gặp sự danh dự, tâm không dính mắc, tự mãn.

Xưng: khi gặp sự xưng tán, tâm không ngã mạn, tự kiêu.

Cơ: khi gặp sự chỉ trích, tâm không đau khổ, buồn rầu.

Khổ: khi gặp lúc khổ nạn, tâm không mặc cảm, oán than.

Lạc: khi gặp cảnh vui mừng, tâm không tham đắm, si mê.

Chư Phật hóa độ chúng sanh bằng tâm "Ðại hùng, Ðại lực, Ðại từ bi". Các Ngài vượt qua hết trở ngại của sự phân biệt và chia cách. Người tu theo Phật phải dũng mảnh tinh tiến rũ bỏ hết tham lam, sân hận và si mê, đem ánh sáng trí tuệ và tâm từ bi, xua tan bóng tối của vô minh nhiều đời nhiều kiếp cho mình và cho người hữu duyên.

Muốn thanh tịnh hóa tâm hồn, đã quá nhiều mệt mỏi vì sự cạnh tranh ồn ào của cảnh đời, như giọt nước lá sen, chỉ cần nhân duyên của cơn gió nhẹ cũng đủ làm cho giọt nước phiền não rơi xuống hồ, trả lại sự trong sạch nguyên vẹn cho lá. Sự diệu dụng của Phật Pháp, đem lợi lạc cho con người ở mọi thành phần giai cấp xã hội.

Ngày nay, băng giảng, kinh sách, được dịch ra nhiều ngôn ngữ, được phát hành rộng rãi, các khóa tu học được tổ chức tại các tự viện, chúng ta có thể tham khảo và tìm một pháp môn thích hợp với căn cơ và hoàn cảnh để tu học. Các vị học giả trí thức đã bỏ nhiều tâm huyết và công phu thành lập các "website" giá trị tu học, đem nhiều lợi lạc cho tứ chúng, xuất gia và tại gia. Giáo lý đạo Phật cũng được nhân loại đón nhận như nước cam lồ cứu khổ chúng sanh, với lòng tôn kính và sự biết ơn Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vô cùng vô tận.

Dù sống một trăm năm

Không thấy Pháp tối thượng

Chẳng bằng sống một ngày

Ðược thấy Pháp tối thượng.   

(Kinh Pháp Cú)

Dù sống một trăm năm

Không tuệ, không thiền định

Không bằng sống một ngày

Có tuệ, tu thiền định.               

(Kinh Pháp Cú)

Sự tu học không đòi hỏi phải ngộ tức thời, hay nóng lòng cầu mong chứng đắc, nhưng cũng đừng trì trệ. Niệm Phật hay tọa thiền để đi đến thanh tịnh tâm, là các pháp môn thực hành, đồng thời với việc tìm hiểu lời Phật dạy, để biết rõ cách tu tâm sửa tánh, đúng theo chánh pháp. Kết quả trừ dứt tất cả nghiệp ác và các duyên gây đau khổ, sau đó cứu người giúp đời, tạo công đức và phước đức. Nguyện đem công đức và phước đức hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sanh đều thành Phật đạo.

Tóm lại, con người thường mong muốn rất nhiều, nhưng đạt được những điều mong cầu thì rất ít. Không ai muốn khổ, nhưng vẫn gặp khổ nạn, không muốn già bịnh, nhưng già bịnh không ai tránh khỏi, không muốn chết cũng không được. Cuộc sống luân hồi khổ nhiều vui ít, sanh sanh tử tử mãi không thoát được.

Thời gian qua rất nhanh, tuổi đời tuổi đạo thì tăng dần, phiền não của tâm chấp trước càng nhiều, là những tư tưởng, quan niệm sai lầm, thành kiến, làm che lấp ánh sáng giác ngộ. Người tu cần thời gian tĩnh tu, tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền để an định tâm, dẹp trừ định kiến và phiền não. Trong kinh sách, có câu kệ như sau:

 

Chánh thân đoan tọa

Ðương nguyện chúng sanh

Tọa bồ đề tòa

Tâm vô sở trước.

 

Nghĩa là:                                   

Thân ngồi ngay thẳng

Nguyện cho chúng sanh

Ngồi tòa giác ngộ

Tâm chẳng chấp trước.

 

Chư Tổ dạy: "Duy Tuệ Thị Nghiệp". Người tu lấy trí tuệ làm sự nghiệp, tinh tấn làm công phu, dùng đạo lực khắc phục mọi khó khăn, tu tập thiền định để đi đến kết quả giác ngộ và giải thoát.

Khi nếm được "Hương Vị Phật Pháp" hạnh phúc không thể nghĩ bàn, thì mỗi thời khắc luôn được sống trong giới pháp an lạc của chư Phật. Báo ân đức Phật, hành Bồ Tát đạo, với tâm vô ngã vị tha, hành từ bi hỷ xả. Từng bước từng bước đạt được đức hạnh trọn vẹn, vô ngã vị tha, đem tâm trí và đạo lực tinh tấn an nhiên đi vào cảnh giới an lạc của chư Phật. Từng bước từng bước tạo duyên lành cho mọi người thân quen nếm được Pháp vị của sự giác ngộ và giải thoát.

Chúng ta có thể tự nhủ lòng rằng: "Hôm nay sự tu tập của tôi đã được một phần an lạc thanh tịnh, so với ngày hôm qua có tiến bộ. Nguyện ngày mai sẽ cố gắng nhiều hơn nữa và không bao giờ thối chuyển. Hãy đặt niềm tin vào con đường mà Ðức Phật đã giảng dạy, giữ giới thanh tịnh, trừ bỏ ba độc tham sân si. Ðó là một sự vô cùng quan trọng và cần thiết cho đời tu".

 

Nguyện chánh pháp lưu truyền

Phổ cập khắp thế gian,

Chúng sanh thường tịnh lạc,

Phật đạo chóng viên thành.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca  Mâu Ni Phật.

TKN. Thích Nữ Chân Liễu

 


CHUYỆN TRONG NHÀ

 

- Thằng Tư nhà mình, hôm nào đi làm, nó cũng khép kín cửa phòng của nó, bộ nó không muốn tôi dòm ngó phòng của nó chắc?

- Không phải đâu, Bà ơi! Bà hiểu lầm rồi! Nó mở cửa sổ phòng của nó cho thoáng. Nhưng nó không muốn tôi với bà bị lạnh, nên khép cửa phòng của nó, chớ nó không có nghĩ quấy gì đâu.

- Ờ hé! Ông không nói, tôi đâu có biết! Bậy quá, tôi cứ suy nghĩ lung tung. Ở chung nhà, người thân mà còn chưa hiểu nhau, huống gì là người dưng, là hàng xóm láng giềng, ha!

 

- Tâm bình thì thế giới bình!



Không Cần Các Hình Thức Tôn Giáo

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

Tôn giáo luôn luôn là một lĩnh vực gây nhiều tranh luận xưa nay. Con người cần nhìn rõ ràng hơn, minh triết hơn về sự khác nhau giữa hình thức tôn giáo (tu tướng) và tu tâm dưỡng tánh (tu tâm). Từ đó con người nhận ra sự khác biệt giữa người tu hành chân chính và cái áo choàng hình thức bên ngoài, mê tín, đạo đức giả mà nhiều người trong các tôn giáo đang mặc trên người, tu sĩ lẫn tín đồ.

 

Tôn giáo nào có số thống kê tín đồ đông nhất hiện nay là tôn giáo tốt nhứt, có phải hay không? Xưa nay, không có tôn giáo nào tốt nhứt. Tôn giáo chỉ là phương tiện tâm linh, giúp cho con người an lạc hạnh phúc trong cuộc sống, không phải là cứu cánh. Con người cần có trí tuệ nhận biết cứu cánh trong giáo lý tôn giáo, không phải hình thức lễ nghi phức tạp và mê tín của tôn giáo đó, cũng như tìm thấy kho tàng trong lòng đất.

 

Số đông tín đồ không hẳn là tiêu chí để khẳng định đó là tôn giáo tốt nhứt. Số đông người không hẳn luôn luôn là đúng. Số người ngu ngốc luôn luôn đông hơn số người khôn ngoan. Theo ý niệm dân chủ, đa số thắng thiểu số. Chứ không hẳn đa số là đúng, thiểu số là sai. Trên đời này, giáo chủ của tôn giáo chỉ có một, số tín đồ của tôn giáo đó có triệu triệu, tỷ tỷ. Trong trường học, hiệu trưởng, ban giám đốc và số giáo chức có hạn, trong khi số học sinh thì đông gấp bội. Trong nhà thương, bệnh viện, số bác sĩ và y tá có hạn, trong khi số bệnh nhân thì đông gấp bội. Trong một quốc gia, hay một tổ chức, số người lãnh đạo có hạn, số người tài giỏi lại hiếm hơn, trong khi dân số hay thành viên của tổ chức đó thì đông gấp bội. Số chim quí thì hiếm, trong khi số chim sẻ thì đông gấp bội.

 

Có người nói rằng: con người có theo một tôn giáo, người đó tốt hơn, thiện hơn người không theo tôn giáo nào, đúng không? Đáp: - Không đúng. Không cần theo bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng dân gian nào, con người vẫn có thể là người rất tốt, người tử tế, người đàng hoàng, người lương thiện, người cao thượng trong một xã hội, trong một quốc gia hay trên thế gian này. Người có theo bất cứ tôn giáo nào, nhưng tâm gian xảo, phách lối, ích kỷ, tham lam, sân hận, si mê, không thể gọi là người tốt, người thiện được, dù người đó là tu sĩ hay tín đồ.

 

Nếu theo bất cứ tôn giáo nào mà mê tín, không thấu hiểu và thực hành giáo lý để hoàn thiện bản thân bản tâm, con người sẽ đi tới chỗ cuồng tín, kỳ thị và khinh dể người khác dù cùng tôn giáo, muốn tiêu diệt thế giới không theo tôn giáo của mình. Các cuộc thánh chiến trong lịch sử nhân loại chứng minh điều này. Tệ hơn, trong nội bộ của một tôn giáo, dù có tổ chức hệ thống chặt chẽ, con người vẫn có thể ám hại người lãnh đạo tối cao, để chiếm lấy địa vị tột đỉnh này. Thảm thương thay cho tôn giáo. Hãy khai mở trí tuệ và tâm từ bi để sống đời an lạc và hạnh phúc.

 

Ngày nay, khi những người thực hành tôn giáo lại tham gia vào những tổ chức, hiệp hội với những chức vụ hoàn toàn không phù hợp với người tu hành như Trưởng Ủy Ban này, Chủ Tịch Hiệp Hội nọ, đưa ra chính sách phát triển tôn giáo theo định hướng, đường lối thế tục gì đó, rồi bình luận về thẩm quyền chính trị của Liên Hiệp Quốc, hay nhận xét về việc chính trị của một quốc gia nào đó, họ có vẻ đã quá xa rời mục tiêu và phẩm hạnh của một người tu hành chân chính.

 

Chánh đạo thì giản dị. Khi xưa chánh đạo được lưu truyền tại thế gian đều không có bất kỳ một hình thức tôn giáo nào. Tất cả đều chỉ bằng những lời thuyết giảng và chính đời sống hiện thực đầy đạo hạnh, từ bi của con người chân chánh, thu phục nhân tâm, cảm hóa lòng người. Không hề có những lễ hội, nghi lễ cúng dường ê hề, quỳ sụp, tụng bái, xá lợi cả thúng cả thùng, xác chết còn nguyên hình lộng kính, tượng thánh biết khóc chảy máu, thánh thần hiện ra trên mây, trên ngọn cây, trên vách tường, tạc tượng Phật có gương mặt rất giống nhà sư lãnh tụ trụ trì.

 

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi xưa giảng về Giới - Định - Tuệ. Những giáo pháp tu tập uyên thâm của Ngài đã khai ngộ thế gian, phá vỡ con đường tu luyện của Bà La Môn giáo qua mọi qui tắc, dùng nghi thức cúng bái, tế thần, lễ lạy Thượng Đế, Thần Linh, thánh thần thiên địa, gạt gẫm thế gian thời đó. Cho nên họ thù hận, phỉ báng và thậm chí một vị đại đệ tử đã bị ám hại trên đường hoằng pháp, giáo hóa chúng sanh. Thật là đáng sợ cho tâm cuồng tín hung tợn của thế nhân u mê, chìm sâu trong bóng tối vô minh, không còn thuốc chữa, không còn có thể quay đầu thấy được ánh sáng chân lý.

 

Chánh đạo coi trọng việc tu hành loại bỏ vọng tâm dục vọng, đề cao chân tâm bản tánh làm căn bản. Nói chung, chánh đạo không quan trọng việc cầu khẩn van xin thánh thần thiên địa, hoặc các hình thức cầu nguyện, lễ bái, lễ hội, thờ cúng hình tượng, tôn sùng thần tượng, qui ngưỡng cá nhân. Người trí tuệ biết thế nào là: y pháp bất nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức. Những thứ nghi lễ, hình thức hữu hình chỉ làm dấy khởi tâm chấp trước của con người, ngụy biện rằng dĩ huyễn độ chơn, lý sự viên dung, làm sao có thể tốt cho việc tu hành loại bỏ tâm phàm. Các chức tước trong hàng giáo phẩm hay tín đồ sẽ sanh tranh giành, chấp trước vào danh vị, quyền lợi, bổng lộc. Các nghi lễ sẽ sanh chấp trước vào vật chất và tâm ngã mạn. Những thứ hữu hình như chùa chiền, tôn tượng, xá lợi, áo mão xanh đỏ tím vàng sặc sở, cân đai lóng lánh, thiền trượng nạm vàng, xâu chuỗi ngọc thạch nạm kim cương lớn nhỏ, dài ngắn, đeo cỗ hay cầm trên tay, sẽ khiến con người tập trung lo việc tu tướng, chú ý vào hình tướng bên ngoài, trông có vẻ thanh tịnh, chuyên nghiệp, mà dần quên mất việc tu tâm dưỡng tánh bên trong, không ngờ tâm mình đang nổi sóng tham lam, sân hận, si mê.

 

Đó không phải là chánh đạo, không phải là cốt tủy, không phải là chân lý, chỉ là hình thức tôn giáo mà thôi. Hình thức tôn giáo chỉ cần cho bá tánh số đông khi mới đến với chánh đạo. Nếu con người cứ tiếp tục chú trọng hình tướng như thế cho đến mãn đời thì con người sẽ xa rời chánh đạo, chồng chất thêm tâm u mê, vô minh càng dầy đặc, tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng, khó mà nhận thấy cốt tủy, khó mà hiểu được chân lý, không thể giác ngộ giải thoát được, phí cả cuộc đời vốn đáng quí, khi sinh ra được làm con người.

 

Những buổi lễ cầu siêu đầy màu sắc, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, chẩn tế cô hốn, trai đàn bạt độ, lễ hội Quán Âm, lễ cúng rước xá lợi, ngày nay trong chánh điện nhà chùa, nào là những cây thông gắn tiền giấy đủ loại dụ dỗ làm tiền, cái tháp cao chót vót đầy chai nước lọc, lon nước ngọt, bánh trái đủ màu sắc, đèn đuốc lung linh, nào là hình nhân thế mạng, nhà lầu xe hơi bằng giấy bồi hàng mã to bằng mẫu thật. Sư Thầy nhận làm lễ khắp nơi nên phải đi máy bay hạng sang, xe gắn máy đắt tiền, thậm chí xe hơi sang trọng có máy lạnh, trên tay khoe chiếc iphone đời mới nhất để tiện liên lạc. Những con người mặc áo nhà tu như thế có mấy ai còn nhớ và thấu triệt giáo lý Giới - Định - Tuệ của đức Phật từng giảng xưa kia. Các tín đồ u mê sẽ bị những nhà sư tu tướng như thế dẫn dắt đi đến đâu, không biết chánh đạo hay tà đạo, chánh pháp hay tà pháp, chánh tín hay mê tín, giác ngộ giải thoát hay trầm luân ràng buộc.

 

Tu hành trong Phật giáo thì trước tiên phải giữ được Giới. Giới cấm hết thảy dục vọng, ngăn ngừa sa ngã, giúp con người không còn chấp trước vào vật chất, danh, lợi, tình, tiền. Muốn tu hành loại bỏ mọi dục vọng, thì không thể mong cầu sự tiện lợi, an hưởng, ngồi trên xe hơi máy lạnh, nghe kinh Phật niệm Phật online, rồi chạy đôn đáo khắp nơi làm lễ cầu siêu, lễ xông đất, lễ trừ tà, lễ khai trương cửa tiệm, lễ hội chẩn tế cô hồn, trai đàn bạt độ, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, để nhận thù lao cho được.

 

Cũng bởi chấp vào hình thức màu mè, lệch lạc, người ta còn tin xá lợi có hình đức Quán Âm, hoặc còn cho tượng đức Quán Thế Âm mặc hẳn áo cưới và giải thích rằng đó là một trong 32 hình tướng của đức Quán Thế Âm. Tôn giáo rơi vào hình thức hữu hình, tạo hình, sẽ tạo điều kiện cho những thứ mới mẻ xâm chiếm, tà pháp xâm nhập, lạc vào tà đạo, khiến việc tu hành xa dần con đường giác ngộ và giải thoát.

 

Làm thế nào để nhận biết được người chân tu thực học

Sách có câu: Tu Mà Không Học Là Tu Mù. Học Mà Không Tu Là Đãy Sách. Học cũng không cần vào chùa. Tu cũng không cần vào chùa. Khắp thế gian này, nơi nào cũng là đạo tràng để con người tu hành, người nào cũng có thể giúp con người thoát khỏi u mê, giúp con người nhận ra chân lý, giúp con người giác ngộ và giải thoát. Các phương pháp hay hình thức tu hành nhằm mục đích giúp con người loại bỏ đi tâm chấp trước, bỏ đi những ràng buộc, không bám víu vào những điều không có ích cho việc tu tâm dưỡng tánh, không bền vững, không lâu dài. Người tu hành chân chánh thật sự sẽ đề cao việc: nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức. Thúc liễm thân tâm từng ngày, từng giờ, từng việc làm, từng lời nói, từng suy nghĩ, tất cả đều phải loại bỏ những tâm xấu ác, bất thiện. Đó là việc con người cần phải quan tâm, không cần biết theo bất cứ hình thức tôn giáo nào trên đời này.

 

Trên thực tế cuộc sống, khó nhận biết, khó nhận xét, khó phán đoán người nào thực sự tu tâm, người nào chỉ tu tướng, trừ khi bản thân của mình có giác ngộ và giải thoát hay không. Tác phong thái độ của người chân tu thực học, chánh tâm cầu đạo, không cần người khác phải kính phục, khen tặng, tán thán, nhìn vào là thấy, không cần nhiều lời hoa mỹ, tâng bốc. Người chân tu thực học, chánh tâm cầu đạo không thể làm những việc buôn thần bán thánh, như kiểu kinh doanh niềm tin của một số người thực hành tôn giáo ngày nay.

 

Tu hành chân chính, chánh tâm cầu đạo, chân tu thực học, không cần theo hình thức tôn giáo. Các hình thức tôn giáo chưa chắc đã là tốt, chưa chắc đã là lợi ích cần thiết. Con người cần sáng suốt, tỉnh táo, phân biệt và nhất là không có định kiến, thành kiến đối với tất cả mọi người chung quanh, và không bị lừa dối bởi những vết nhơ do những kẻ phá hoại tôn giáo đang làm. Từ Bi và Trí Tuệ là hai yếu tố căn bản cần thiết cho tất cả mọi người trên thế gian này, không cần các hình thức tôn giáo xưa nay. []

 

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

VP. PHẬT-HỌC TỊNH-QUANG CANADA

llllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllll

 Kính mời tham khảo:

Tu Tướng và Tu Tâm

*** TU TƯỚNG VÀ TU TÂM


 

BUÔNG

 

Buông tất cả sẽ được tất cả 

Buông tham đắm sẽ được tự tại

Buông thù hận sẽ được an lành 

Buông si mê sẽ được sáng suốt

Buông danh lợi sẽ được thanh nhàn

Buông đấu tranh sẽ được bình yên

Buông ích kỷ sẽ được hạnh phúc. 

Buông vọng chấp sẽ được bồ đề.

Buông tất cả,

Niết Bàn Cực Lạc tại thế gian.

 VIÊN PHỤNG


 


AI VÀO ĐỊA NGỤC

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/10/ai-vao-ia-nguc.html

CHÁNH TÍN TRONG ĐẠO PHẬT

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/07/chanh-tin-trong-ao-phat.html

NGƯỜI BIẾT TU PHẬT THÌ NHẸ NHÀNG

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/07/nguoi-biet-tu-phat-thi-rat-nhe.html

LÒNG TIN NGƯỜI CON PHẬT

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/07/long-tin-cua-nguoi-con-phat.html

THẾ NÀO LÀ THẬT SỰ TỪ BỎ

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/10/nao-la-that-su-tu-bo.html

TINH THẦN TỰ DO TRONG ĐẠO PHẬT

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/07/tinh-than-tu-do-trong-ao-phat.html

TÂM VÀ TƯỚNG TRONG PHẬT GIÁO

http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2012/10/tam-va-tuong-trong-phat-giao.html

Thursday, 13 August 2020

ÐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT - CÀNH HOA SEN MÀU XANH

 

CÀNH HOA SEN MÀU XANH ÐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

 TKN Thích Nữ Chân Liễu


Trong thiền môn, bức tranh vẽ “Tây Phương Tam Thánh” Bồ Tát Ðại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh, đứng bên tay phải Ðức Phật A Di Ðà, bên tay trái là Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy. Trong kinh sách, hai vị Bồ Tát hiện thân cư sĩ nữ hai bên Ðức Phật A Di Ðà tượng trưng Từ Bi và Trí Tuệ.

Bồ Tát Quán Thế Âm được nhiều người nhắc đến và tạc tượng lộ thiên ở các chùa, tu viện, tùng lâm, để ca ngợi hạnh kham nhẫn và đức từ bi cao thượng. Bồ Tát Ðại Thế Chí biểu trưng cho đức tinh tấn và ánh sáng trí tuệ. Ngài còn có danh hiệu là Ðắc Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Tinh Tấn Bồ Tát hay Vô Biên Quang Bồ Tát.

Các danh hiệu của Bồ Tát Đại Thế Chí nói lên hạnh nguyện đại hùng, đại lực, đại tinh tấn và ánh sáng trí tuệ vô biên chiếu khắp mọi loài chúng sanh, có thể phá trừ vô minh, điều phục tham sân si, chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Các vị Bồ Tát đều có từ bi, trí tuệ và ý chí xuất phàm như nhau, đó là nhân để tiến đến Phật quả.

Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật ca ngợi Bồ Tát hạnh như sau:

“Nhân vì chúng sanh mà khởi tâm đại từ bi. Nhân lòng đại từ bi mà phát bồ đề tâm. Nhân phát bồ đề tâm mà thành ngôi chánh giác”.

Bồ Tát Đại Thế Chí tay cầm cành hoa sen màu xanh. Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết trong sạch, không dính danh lợi thế gian, có sức mạnh tự tại vượt thoát khỏi bùn nhơ, thành tựu trí tuệ. Màu xanh của hoa sen tỏa ánh sáng xanh trên cõi trời tây phương tịnh độ, và còn là sức mạnh tinh tấn của chánh định, là trí tuệ siêu việt như trời biển tĩnh lặng rộng lớn bao la bát ngát.
  
HNH NGUYN CỦA BỒ TÁT ĐI THẾ CHÍ: 
Hạnh nguyện của Bồ Tát Đại Thế Chí thuộc về tâm thức, hạnh tu tâm dưỡng tánh đi đến giải thoát rốt ráo. Tu theo Bồ Tát đạo là trước tiên phải tu tập thiền định để có được trí tuệ, xa lìa ái dục để được giác ngộ giải thoát; sau đó là phát đại nguyện độ tận tất cả chúng sanh đều được an trụ trong cảnh giới chư Phật. Mắt trần của chúng sanh thấy như Bồ Tát Đại Thế Chí không làm gì cả, nhưng thật sự làm tất cả hạnh nguyện của tâm hạnh bồ tát, làm với tinh thần tích cực và tinh tấn mạnh mẽ cao thượng tột cùng.

Bồ Tát Đại Thế Chí là tâm vô ngã và bình đẳng chân thật, không dụng tâm cố ý cho người thấy để tán dương khen ngợi, cũng không chấp vào công đức đã làm, không chấp tướng, không cầu danh. Hạnh vô ngã, vô trụ, vô phân biệt của Bồ Tát chẳng sinh một niệm gì cả, cũng không thấy có chứng, có đắc, có độ. Đó là chánh định và chánh niệm viên mãn tuyệt đối.

Hạnh nguyện của Bồ Tát Ðại Thế Chí là sự tinh tấn trong đạo Phật, có ích lợi cho chúng sanh rất nhiều và cũng là pháp tu tượng trưng cho sự nỗ lực dũng mãnh chân chánh trên con đường đi đến giác ngộ và giải thoát. Trong 37 phẩm trợ đạo, bát chánh đạo bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.  Và tứ chánh cần gồm có:

Tinh tấn ngăn ngừa các điều ác chưa phát sanh.
Tinh tấn dứt trừ các điều ác đã phát sanh.
Tinh tấn phát triển các điều lành chưa phát sanh.
Tinh tấn tăng trưởng các điều lành đã phát sanh.

Hình ảnh Bồ Tát Đại Thế Chí là một vị cư sĩ thân người nữ, cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm cành hoa sen xanh, tâm định như gương, thanh tịnh như nước lặng. Bồ Tát biểu trưng năng lực người tu không bị khuất phục bởi danh lợi và ngũ dục, tham sân si không làm ô nhiễm, như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

LI ÍCH CỦA TINH TẤN VÀ TRÍ TUỆ: 
Đức tinh tấn và trí tuệ rất cần thiết cho người tu, là con đường đi đến sự giác ngộ và giải thoát viên mãn. Trí tuệ có được là do tinh tấn tu hành, siêng năng học đạo, tham thiền, niệm Phật, tụng kinh, bái sám, không giải đải, không thối chuyển. Người học đạo có trí tuệ sáng suốt, biết được sự nguy hiểm của vô minh, dẫn chúng sanh đi vào lục đạo sanh tử của luân hồi, nên mạnh dạn chặt đứt phiền não của nhân bất thiện và nghiệp ác. Tinh tấn còn là tâm hoan hỷ siêng năng, chuyên cần làm mọi việc thiện lành, cứu người giúp đời, sau đó điều cần thiết và quan trọng là tinh tấn tự tu học, cho đến khi thân khẩu ý được hoàn toàn trong sạch và thanh tịnh.

             Chư ác mạc tác.
             Chúng thiện phụng hành.
             Tự tịnh kỳ ý.
             Thị chư Phật giáo.
             
             Việc ác không làm.
             Việc thiện vâng làm.
             Tâm ý thanh tịnh.
             Lời chư Phật dạy.

Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ, mặc dù giáo pháp của Đức Phật mênh mông, nhưng không ngoài một vị giải thoát. Văn Tư Tu là ba pháp tu có công năng thành tựu được trí tuệ, người tu theo Phật phải luôn luôn học tập, suy tư và thực hành.

Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy:
“Trí tuệ là chiếc thuyền kiên cố chở ta ra khỏi biển sanh lão bịnh tử; cũng là ngọn đèn chói sáng xua tan vô minh hắc ám, là liều thuốc chữa bịnh tham sân si, là chiếc búa chặt đứt phiền não. Vậy các ngươi phải văn huệ, tư huệ, tu huệ và hành trì tinh tấn để tự tăng trưởng trí tuệ”.

      * Văn huệ: do nghe âm thanh, văn tự của Phật mà hiểu được ý nghĩa của kinh điển.
      * Tư huệ: do trí suy tư tìm hiểu, thấy được chân lý sự thật một cách sáng suốt.
      * Tu huệ: sự hành trì tinh tấn, mà giác ngộ thực tướng rõ ràng mọi sự vật không sai.

Hiện thân của Bồ Tát Đại Thế Chí là căn bản trí tuệ cho người tu, nhờ vào trí tuệ có năng lực như ngọn đèn sáng rực, soi rọi các tà vọng thiện ác, thấy được vực sâu của tội ác trong thế gian một cách rõ ràng. Ánh sáng trí tuệ chói rọi đến thâm tâm của con người, đến những nơi u ám của thế gian, để phá vỡ màn vô minh cứu khổ cho nhân loại. Tất cả chư Phật chư Bồ Tát nào cũng có hạnh nguyện đại từ bi và đại trí tuệ như Đức Phật A Di Đà và đó cũng là Phật tánh sáng suốt thanh tịnh, bất sanh bất diệt của con người.

Tu theo hạnh Bồ Tát Đại Thế Chí là tinh tấn kham nhẫn cho đến khi tâm an vui giải thoát, chứ không phải cái vui vị kỷ trong đối đãi: được mất, hơn thua, khen chê, sướng khổ. Si mê là gốc tội lỗi. Một niềm tin hay hiểu biết sai lầm sẽ khiến con người rơi vào vực thẳm đau khổ triền miên. Trí tuệ giúp con người nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa đúng và sai, thiện và ác, nhưng không tâm kỳ thị phân biệt và không bị phiền não chi phối. Đó cũng là tinh thần vô trụ, vô chấp của Bồ Tát Đại Thế Chí. Ðạo Phật là đạo giác ngộ bằng con đường trí tuệ, và giải thoát chúng sanh qua hạnh nguyện từ bi. Bồ tát cũng từ thế giới ta bà khổ, tu hành tinh tấn, trì giới thanh tịnh, tâm từ bi cao thượng, trí tuệ sáng suốt, phá được vô minh sanh tử luân hồi, và đạt thành chánh đẳng chánh giác.





NIM HỒNG DANH PHT VÀ BỒ TÁT:
Người mê miệng niệm Phật, nhưng tâm phiền não và ý mơ tưởng chuyện hưởng lạc cảnh giới tây phương. Người ngộ miệng niệm Phật, tâm trong sáng, ý thanh tịnh và tuệ chánh định như Bồ Tát Đại Thế Chí. Cảnh giới Tịnh Độ là cõi chư Phật trong sạch đẹp đẽ như ngọc lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, thì tâm chúng sanh muốn về cõi Phật cũng phải thanh tịnh sáng suốt, vô chấp và vô ngã tuyệt đối.

*    Niệm mà không chấp có niệm, đó là chánh niệm.
*    Hành mà không chấp có hành, đó là chánh tinh tấn.
*    Độ mà không chấp có độ, đó là chánh tư duy.
*    Tu mà không chấp có tu, đó là chánh tri kiến.

Niệm Phật để thanh tịnh tâm và đạt được nhất tâm. Muốn sanh về cõi tịnh độ  Đức Phật A Di Đà, con người còn phải thực hành hạnh từ bi, kham nhẫn, thanh tịnh như Bồ Tát Quán Thế Âm và đạt định lực dũng mãnh, ý chí tinh tấn, trí tuệ sáng suốt như Bồ Tát Đại Thế Chí. Thiếu một trong hai đức tánh bên trái hoặc bên phải của Đức Phật A Di Đà, thì đường về cõi Tây Phương Tịnh Độ còn xa cách ngàn trùng.

Hành giả trên đường tu, biết ơn, phụng thờ, chí tâm đảnh lễ, và niệm hồng danh Bồ Tát Đại Thế Chí, tức là đang hướng về ánh sáng trí tuệ sẵn có tự thân. Kính lễ và niệm hồng danh chư Phật chư Bồ Tát không có ý nghĩa cầu xin bình an, hay vật chất sung sướng, chính là hướng về tâm hạnh từ bi, trí tuệ cao thượng, nguyện tinh tấn tu tâm dưỡng tánh theo lời Phật dạy. Như vậy là cách niệm hồng danh và đảnh lễ  chư Phật chư Bồ Tát đúng chánh pháp bậc nhất, còn gọi là chánh niệm và chánh định.    

Ở thế gian, khi bước chân vào điện Phật chốn Thiền môn, người Phật tử đã phải bỏ lại đôi dép bụi bặm bên ngoài, thân tướng trang nghiêm cung kính, tâm chánh niệm, ý thiện lành, để xứng đáng là Phật tử chân chánh khi đảnh lễ Đức Thế Tôn. Cõi Phật là cõi cao thượng, thanh tịnh, không có đau khổ, không có ba đường ác. Tâm người tu phải thanh tịnh, sạch hết phiền não, không còn nghiệp chướng, không còn danh lợi, không hơn thua tranh chấp, xả bỏ hết ích kỷ nhỏ nhen của phàm phu. Đó chính là chuẩn bị cho mình trở thành một bậc thượng thiện nhơn, để được sanh về cõi tịnh độ của chư Phật.

Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ; đem ánh sáng trí tuệ phá trừ vô minh, giúp người tu diệt tham ái sân hận si mê, đó gọi là công đức; đem từ bi là tình thương trong sạch, thanh cao, cứu người giúp đời, đó gọi là phước đức. Công đức và phước đức là phương tiện đạt thành đạo quả.

Thông thường, khi con người trong thế gian làm được việc lành việc tốt, thì hay tự hào ngạo nghễ, xem thường tất cả mọi người khác. Sự trói buộc của bản ngã làm người tu mất hết một phần công đức, phước đức, giảm bớt một phần từ bi và trí tuệ. Tu Bồ Tát đạo là phải tự giải thoát những trói buộc và phiền não thế gian. Tu Bồ Tát đạo không sợ sanh tử, cũng không chán ghét ta bà khổ. Tất cả vì sự đau khổ của chúng sanh, phát nguyện tùy duyên cứu độ. Đó là tâm hạnh ưu việt của người tu Bồ Tát đạo.

Tóm lại, đời tu không phải ai cũng có hoàn cảnh giống như nhau, con người thường thích cầu nguyện cho cuộc đời bớt sóng gió, bớt khổ đau, nhưng cuộc đời không như chúng ta mong ước. Trên thế giới ta bà khổ, không phải ai phát tâm tu hành đều được người cung kính hay tán thán, hoặc không bị sóng gió, nhưng dù cảnh thuận hay nghịch, người tu luôn cố gắng tinh tấn giữ vững niềm tin và nghị lực không thối chuyển.

Con người có hạnh phúc, không nhất thiết là phải được tất cả mọi mong cầu, mà là người mạnh dạn đứng lên khi thất bại, biết chuyển đổi được những khó khăn và khổ đau xảy đến, thành an lạc hạnh phúc trong tâm hồn. 
Bồ Tát Đại Thế Chí là oai lực của trí tuệ, là công hạnh lý tưởng cao thượng tột cùng của công phu tinh tấn tu tập của người tu . Xuất gia hay tại gia đều có khả năng tự chọn con đường tu, tự độ và độ tha, bằng sức mạnh của từ bi và trí tuệ.

“Tự Tánh Di Đà Duy Tâm Tịnh Độ”, nơi tâm nhứt niệm thanh tịnh, không loạn động điên đảo thì thấy được cảnh giới tịnh độ, có nhiều hoa sen xanh tỏa ánh sáng màu xanh tuyệt đẹp, đó là hình ảnh của Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí chắc là không sai chút nào. []

NAM MÔ ĐẠI LỰC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT
TKN Thích Nữ Chân Liễu
(Toronto, Canada)



  TÀ ĐẠO TRONG GIỚI TU SĨ


Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ
Xưa kia, khi còn ở trong nước, đi ngang qua một địa phương, có người tự hỏi tại sao có quá nhiều nhà thờ,
khoảng vài cây số lại có một nhà thờ trong khi dân chúng nghèo khổ?
Bây giờ thì chùa chiền cũng mọc lên rất nhiều, không kém gì các nhà thờ xưa kia, mà có vẻ đồ sộ hơn,
còn dân chúng nghèo thì vẫn nghèo.
Cớ sao các vị tu sĩ không nhớ lại là khi đi tu, trong tâm chỉ xin Đức Chúa cho được hằng ngày đủ dùng, Đức Phật cũng dạy con người phải biết tri túc để sống đời an vui hạnh phúc.
Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng, du vi an lạc.
Nghĩa là: Người nào biết đủ, tuy nằm trên đất, cũng thấy yên vui. 
Khi đủ sống rồi thì người tu phải làm gì để giúp đỡ người nghèo khổ,
người cầu học chánh pháp, người muốn giác ngộ và giải thoát.
Như thế mới thể hiện được lời dạy của các Đấng Tối Cao về lòng bác ái, tâm từ bi, thương người như thể thương thân.
Ngày xưa Đức Phật, đã từ bỏ ngôi báu, cung vàng điện ngọc, với một bát,
một cà sa, đi từng nhà này qua nhà khác để khất thực: «Nhất bát thiên gia phạn. Cô thân vạn lý du»
(Một bát ngàn nhà xin cơm. Đơn thân muôn dặm độc hành).
Đồng thời Ngài cũng bố thí pháp để cứu độ chúng sanh.
Đây chính là điểm quan trọng nhất mà các tu sĩ nhất định nên làm, phải làm.
Hình ảnh Đức Phật đi khất thực như thế đã cho chúng ta bài pháp thâm thúy nơi thân giáo của Ngài.
Vài người chưa kịp hiểu ý nghĩa cao thượng về pháp khất thực đã vội có tư tưởng và lời nói không hay.
Mỗi tu sĩ Phật giáo, nếu có cái nhìn sâu sắc, thì chính mỗi vị là một ngôi chùa di động
vì trong họ có đủ Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. 
Phật chính là tâm sáng suốt.

Pháp chính là tâm chân chánh.

Tăng chính là tâm thanh tịnh.

Ba tâm đó nói chung mọi người đều có - không phân biệt tôn giáo - người tu sĩ cũng như người cư sĩ đều có.
Họ chỉ cần tu tập, xây dựng vững chắc ngôi chùa trong bản thân thì ngôi chùa bên ngoài cũng có cơ hội hình thành. 
Nơi đâu cũng là đạo tràng, cũng là thiên đàng, cũng là niết bàn.
 
Ngôi chùa bên ngoài chỉ là phương tiện để hoằng pháp, chứ không phải là cứu cánh của người tu.
Người tu - dù là tu sĩ hay cư sĩ - đi đến chùa là để học hiểu chánh pháp,
đặng áp dụng trong đời sống thức tế hàng ngày,
chứ không phải để cầu nguyện suông được vãng sanh cực lạc,
mà chẳng tìm học và áp dụng những điều đức Phật dạy.
Do đó, người tu sĩ nhận của cúng dường, bố thí từ nơi bá tánh,
phải luôn luôn nhớ bổn phận tự tu, tự độ chính bản thân
và giúp mọi người biết cách tu đúng chánh pháp, gọi là độ người, độ tha nhân.
Người xưa có nói tu thân rồi mới tề gia. 
Một tu sĩ tự độ rồi mới độ tha, phải là một vị thầy sáng suốt, chân chánh, thanh tịnh, phải là một vị minh sư, mới có thể đem đạo vào đời, giúp đời giảm thiểu phiền não khổ đau, gieo tình thương, an lạc, hạnh phúc
vào vườn tâm mọi giới: «Minh sư hưng đạo».
Tu sĩ còn là người lèo lái con thuyền bát nhã, cứu người thoát khổ, độ người thoát khỏi trầm luân, đưa đến bờ giác!
Người tu - tại gia hay xuất gia - cần nắm vững chánh pháp, để tự độ thân và độ tha nhân,
không lầm tà pháp, không chọn tà sư và không lạc vào tà đạo.


CỨU KÍNH CỦA ĐẠO PHẬT

Trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật có dạy: "Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo". Nghĩa là chúng ta không làm tất cả các việc bất thiện, không làm những việc ác, tránh những việc tổn người hại vật, cố gắng làm tất cả những việc thiện, những việc ích lợi cho người khác, nhưng đừng ghi nhớ, đừng chấp chặt vào những việc ích lợi đã làm, thì tâm ý của chúng ta sẽ được thanh tịnh. Ðó là tu tâm dưỡng tính, đó là điều cốt yếu chư Phật mười phương ba đời muốn dạy như vậy.

Thí dụ chúng ta đã làm những việc ích lợi cho bất cứ ai mà chấp chặt vào đó thì tâm của chúng ta sẽ bực dọc, bất an khi không được ai khen tặng hoặc không được ai đáp ứng như ý.
Nếu như quên đi những việc thiện đã làm, giúp đỡ người với tâm "thi ân bất cầu báo đáp", thì chúng ta sẽ yên ổn, bình an, tâm của chúng ta sẽ không loạn động, không bực bội khi gặp phải người vô ơn. Trong Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy rằng: "Trong tâm khiêm tốn là công. Ngoài hành lễ phép là đức". Hay: "Nội cần khắc niệm chi công. Ngoại hoằng bất tranh chi đức".

Nghĩa là "bên trong" chúng ta phải chuyên cần vận nội lực loại trừ những tâm niệm kiêu ngạo, tật đố, ngã mạn, ganh tị, đố kỵ, khen mình khinh người, để đạt được tâm niệm khiêm tốn, hạ mình, nhún nhường, tùy hỷ công đức.
Ðồng thời, chúng ta cũng phải vận nội công để khắc phục các tạp niệm, để tâm không còn có các vọng tưởng.

Mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta liền giác ngộ, liền nhận biết và dừng ngay, không tiếp tục theo dòng tâm thức, đi lang thang từ đông sang tây, từ quá khứ đến hiện tại và vị lai, từ chuyện này đến chuyện khác. Như vậy chúng ta có được "công".
Ðiều quan trọng cần biết là: chúng ta đừng sợ có vọng tưởng, tạp niệm khởi lên trong tâm thức. Ai ai cũng có vọng tưởng và tạp niệm.

Chỉ sợ chúng ta không giác ngộ, không nhận biết kịp thời, nên bị vọng tưởng, tạp niệm lôi cuốn, đi lang thang làm khách phong trần, quên mất cố hương, từ bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp.
Khi dong ruổi theo các vọng tưởng, tạp niệm như vậy, tâm của chúng ta sẽ loạn động với thất tình lục dục, tức là quên mất "bản tâm thanh tịnh" sẵn có của chúng ta.

Còn "bên ngoài" chúng ta thực hành lễ phép, cung kính, tôn trọng tất cả mọi người, bởi vì mọi người ai ai cũng có "Chân Tâm Phật Tính" như nhau, mọi người ai ai cũng có ưu điểm để chúng ta học hỏi, noi theo, không phân biệt, không thành kiến, không kỳ thị, không tranh cãi, không hơn thua, không thị phi, không ỷ mình là kẻ trên người trước, kẻ có nhiều công lao, kẻ có nhiều tài năng, kẻ làm được nhiều việc không ai bằng. Như vậy chúng ta được nhiều người thương mến, gần gũi. Như vậy chúng ta có được "đức".
Thêm nữa, người Phật Tử muốn có công đức thì bên trong không có tâm chấp ngã, tâm chấp pháp, nói chung là tâm cố chấp; bên ngoài hành động luôn luôn ngay thẳng, bình đẳng, công minh, chính trực.

Hãy phát tâm tìm học kinh điển, biết đúng Chính Pháp mà hành theo, tránh chuyện tu mù, tu mò, để khỏi lạc sang tà giáo, ngoại đạo. Công đức là ở "Pháp Thân", phát sinh trí tuệ bát nhã, không do tu phúc, không do làm những việc phúc thiện mà được.
Chúng ta ngày nay cũng hay lầm lẫn cho rằng lập chùa, giúp chư tăng tu học, bố thí, cúng dường, làm Phật sự, đi chùa lạy Phật là được nhiều công đức và tự hào rằng mình làm vô lượng vô biên công đức, cần phải được tán thán, rồi chờ đến ngày được vãng sinh về cõi tây phương cực lạc quốc của Ðức Phật A Di Ðà!

Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật dạy rất rõ ràng cõi Tây phương cực lạc là nơi chỉ có các bậc bồ tát "nhứt sinh bổ xứ", tức là các bực "thượng thiện nhơn" sắp thành Phật, những người hiền thiện bậc thượng, gặp gỡ nhau mà thôi.
Những người còn đầy dẫy tham sân si, đầy dẫy nghiệp chướng, đầy dẫy phiền não thì nhứt định không thể nào đạt được cảnh giới đó. Không thể chỉ lấy có một chút ít thiện căn phúc đức làm nhân duyên, để cầu nguyện về cõi cực lạc đó được.

Ví như người đeo nặng qua sông thì phải chìm, không thể nổi được. Chứ không phải Ðức Phật A Di Ðà không có lòng từ bi cứu độ chúng ta.
Chư Phật có tâm đại từ đại bi muốn cứu độ chúng ta, nên chỉ dạy các pháp môn tu học, các phương pháp, để chúng ta noi theo đó mà tự mình tu tập, để tự được cảnh giới an lạc và hạnh phúc hiện đời và vãng sinh mai sau.

Có người quan niệm "đới nghiệp vãng sinh", nghĩa là con người vẫn còn mang nghiệp chướng, nhưng nhờ biết niệm Phật A Di Ðà, nên được Ngài thương xót cho vãng sinh về cõi tây phương cực lạc, rồi tu tiếp sướng hơn. Ðiều này có vẻ "phe đảng" cũng như quan niệm cứ chấp nhận rước thượng đế vào lòng thì sẽ được thượng đế cho về thiên đàng, hưởng phúc đời đời, không cần biết đó là người như thế nào!

Thực ra, đạo Phật không có dạy như vậy. Nếu thực sự muốn tu cho thành người tốt, thì chúng ta hãy tu ngay ở cõi đời này, đừng hẹn. Còn mang nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, nếu về tây phương, chỉ làm nơi đó ô uế mà thôi.
Dù có được về bên đó chăng nữa, không thấy thích hợp, cũng sẽ đòi về trở lại mà thôi!

Sống với những người thế tục, chúng ta mới cần phải tu, mới có cơ hội để tu. Chứ về bên đó gặp toàn người tốt thì đâu cần phải tu nữa.
Cũng như người còn nhiều phiền não quá, nhiều nghiệp chướng quá, dù có được đưa vào chùa ở, mà không quyết tâm trì chí, cũng khó mà tu được, có ngày cũng xuất, nếu không xuất thì sẽ gây biết bao nhiêu việc đáng tiếc cho cảnh thiền môn!

Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật cũng dạy nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe được danh hiệu Phật A Di Ðà, luôn luôn trì giữ danh hiệu đó trong tâm trí, lúc nào cũng niệm Phật, nhớ nghĩ tới Phật, trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bảy ngày, đạt được tâm yên không loạn.

Khi thọ mệnh hết, người như vậy giữ gìn được tâm không điên đảo, tức thời được vãng sinh cõi nước tây phương cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà. Tại sao vậy?
Bởi vì khi tâm của người đó luôn luôn niệm Phật, không còn lăng xăng, lộn xộn, không còn loạn động vì các việc đối đãi thị phi, hơn thua, tốt xấu, cho nên cảm ứng được cảnh giới tịnh độ của Ðức Phật A Di Ðà vậy.

Nói cách khác, tâm của người đó thấy mọi sự đúng như thực, thấy mọi việc không còn điên đảo, gọi là "tâm bất điên đảo", cho nên người đó thấy được "Tự Tính Di Ðà, Duy Tâm Tịnh Ðộ". Nghĩa là nhờ tâm được thanh tịnh, bất loạn động, bất điên đảo, cho nên người đó thấy được "Phật Tính", tức là "Pháp Vô Sinh", không còn sinh tử luân hồi, tức đắc vãng sinh tây phương cực lạc. Nếu còn nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, nghĩa là tâm còn điên đảo, tâm còn loạn động, làm sao vãng sinh được mà mong cầu!

Cõi tây phương cực lạc hay cõi thiên đàng là cảnh giới "bất tùy phân biệt", bình đẳng tuyệt đối, chí công vô tư, làm gì còn chia giai cấp có chín phẩm, ba hạng, thượng trung hạ, như con người tưởng tượng cho thêm lộn xộn và phức tạp! Không thể lấy tâm lượng phàm phu xét cảnh giới bồ tát! Như vậy, cốt tủy của đạo Phật, không phải là van xin cầu nguyện, cúng kiến lễ lạy cho nhiều, mà chính là lúc nào cũng nhớ nghĩ tới hạnh nguyện của chư Phật, nói lời như Phật dạy, hành động như Phật dạy, luôn luôn giữ gìn tâm ý thanh tịnh, bình an, yên tĩnh, không loạn động, không điên đảo.

Ðược như vậy, tam nghiệp hằng thanh tịnh, chúng ta vừa có phúc đức vừa có công đức đầy đủ, phúc tuệ trang nghiêm, tùy tâm mãn nguyện. Kinh sách có câu: "Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật". Cứu kính của đạo Phật chính là nghĩa đó vậy.

(TK Thích Chân Tuệ)

 MỘT ĐOÁ HỒNG CHO NGƯỜI HÀNH KHẤT
Tác giả: NGÂN HÀ
Cô gái bán hoa hồng đã tặng đóa hoa cuối cùng của mình cho một người ăn xin ở ven đường, không ngờ bông hoa ấy lại giúp người đàn ông đổi đời!

Đóa hoa hồng nhỏ bé có sức mạnh thay đổi một con người

Có một cô gái bán hoa hồng, sau khi đã bán được gần hết số hoa của mình,cô liền đưa bông hoa hồng còn lại đang cầm trên tay tặng cho một người ăn xin ở ven đường.

Người ăn xin này chưa từng nghĩ lại có một cô gái tặng hoa cho mình, có lẽ từ trước đếnnay anh ta cũng không từng để tâm đến bản thân, mà cũng có thể chưa từng đượcnhận tình yêu thương từ người nào khác.

Anh ta quyết định,ngày hôm đó không đi xin nữa mà trở về nhà

Sau khi trở về nhà, anh ta cắm đóa hoa hồng vào một chiếc bình nhỏ rồi đặt ở trên bàn và ngồi thưởng thức.


Không ai có thể ngờ rằng, bông hoa hồng nhỏ bé ấy lại giúp người ăn xin bừng tỉnh


Trong lúc ngồi ngắm hoa, anh ta chợt nghĩ: "Bông hoa xinh đẹp như thế này sao có thể cắm vào một chiếc bình bẩn thỉu như vậy được!", thế là anh quyết định mang chiếc bình đi lau rửa sạch sẽ, để cho xứng đôi với vẻ đẹp của đóa hoa.

Sau khi làm xong rồi, anh ta lại nghĩ: "Bông hoa xinh đẹp như thế, chiếc bình sạch sẽ như thế sao lại có thể đặt trong một căn phòng bẩn thỉu và bừa bộn như thế này chứ!" 


Thế là anh ta quét dọn sạch sẽ một lượt toàn bộ căn phòng của mình rồi sắp xếp lại đồ đạc cho gọn gàng ngăn nắp. Căn phòng bỗng nhiên trở nên ấm áp vì có sự chiếu rọi của đóa hoa, nó khiến anh ta dường như đã quên mất chỗ ở cũ của mình vậy.

Đang lúc cảm thấy lâng lâng trong lòng, thì anh ta phát hiện trong tấm gương phản xạ ra một người bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, anh ta không ngờ bộ dạng của mình lạinhư vậy và thầm nghĩ: "Người như này đâu có tư cáchgì làm bạn với đóa hoa hồng kia?" 


Thế là anh ta lập tức đi tắm rửa, sửa sang đầu tóc, làm thay đổi bản thân, tìm trong đống quần áo chọn một bộ tuy cũ kỹ nhưng cóphần sạch sẽ. 

Anh ta phát hiện ra một chàng trai tuấn tú mà chưa từng tưởng tượng ra khi soi mình vào tấm gương. Chợt anh ta nảy sinh ý nghĩ:"Mình quả là không tồi, sao có thể đi làm kẻ ăn xin được nhỉ?" 


Đây là lần đầu tiên anh ta tự hỏi mình kể từ khi quyếtđịnh đi ăn xin, có lẽ tâm hồn của anh ta đã trong nháy mắtmà thức tỉnh. Anh nhìn nhìn lại hết thảy mọi thứ trong căn phòng,rồi nhìn lại đóa hoa hồng xinh đẹp kia và lập tức đưa ra một quyết định trọng yếu nhất trong cuộc đời mình:"Từ ngày mai mình sẽ không làm một người ăn xin nữa, mình sẽ đi tìm việc làm!". 



Chỉ nhờ sự khích lệ từ bông hoa hồng ấy, người đàn ông như được tiếp thêm niềm tìm, nghị lực, chấp nhận nhiềuthử thách, khó khăn. Nhờ sự cố gắng không ngừng, chỉ mấy năm sau, từ một người ăn xin, anh đã trở thành ông chủ của một công ty.

"Tất cả mọi điều trên thế giới này, đều được hi vọng làm nên" 


Trong câu chuyện trên, bông hoa hồngkhông chỉ đơn thuần là một đóa hoa, mà nó là biểu tượng của tia hy vọng, tượng trưng cho ước mơ tươi đẹp và một tương lai rực rỡ.

Khoảng cách giữađịa ngục và thiên đường chỉ là một bức tường mỏng manh, chỉ cần bạn tin tưởngvào chính mình, không buông bỏ chính mình, trong lòng có ước mơ, có mục tiêu,có hy vọng thì cuộc đời có thể tùy thời mà được biến đổi.

Hãy tìm "đóa hoa hồng" xinh đẹp của cuộc đời bạn, khiến bạn có những cải biến nhonhỏ, khi bạn biến đổi rồi thế giới cũng sẽ biến đổi theo!

Nếu như đã có được một "bó hoa hồng" lớn, có thể trang điểm cho cuộc đời của bạn, thì hãy đem những đóa hoa hồng tượng trưng cho hy vọng và năng lượng thần kỳ ấy, san sẻ cho những người bên cạnh mình như cô gái kia.


Hy vọng và ước mơ không phải là lờ đi thực tế. Đó là khoác lên thực tế màu sắc và cầu vồng!


Hãy dám nghĩ đến những giấc mơ lớn lao, giữ vững niềm tin rằng không có gì là không thể. Như nhà văn Thoreau từng nói: "Nếu bạn đã xây một lâu đài trên mây thì lâu đài đó sẽ không biến mất, nó sẽ luôn ở đó. Bây giờ chỉ cần bạn đặt nền móng cho nó mà thôi."

Xuất phát từ niềm tin và hy vọng của mình, hãy xác định mục tiêu rõ ràng cho bản thân. Sau đó hãy  hành động để biến ước  mơ thành  hiện thực. 


Khi bạn hướng toàn bộ tâm trí mìnhvào ngôi sao dẫn đường đó, thì việc đạt được mục tiêu sẽ dễ dàng hơn nhiều. Giống như người ăn xin đã dần dần thay đổi diện mạo, chỗ ở, và nhận ra bản thân có thể cố gắng nhiều hơn để thực hiện ước mơ của mình. Chỉ cần có niềm tin và hi vọng.

Đừng bao giờ quên rằng mọi giấc mơ đều bắt nguồn từ niềmhy vọng. Tất cả những câu chuyện về sự thành công với một kết thúc có hậu đều bắt đầu bằng câu: "Ngày xửa ngày xưa, có một người mơ rằng một ngày nào đó…" 


Những khó khăn, vấp ngã trong cuộc sống chắc chắn ai cũng đã từng trải qua. Điều quan trọng là thái độ và cách mà chúng ta vượt qua những khó khăn, vấp ngã đó như thế nào?

Hi vọng và lạc quan chính là hai yếu tố giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, vấp ngã và cả những thử thách trong cuộc sống.

Vì vậy, hãy bỏ lại những phiền muộn, đau khổ trong quá khứ. Ai cũng có thể phạm phải sai lầm, vấp váp, thất bại, nhưng điều gì đã xảy ra, dù cho có nặng nề đến mức nào, thì đó cũng đã là quá khứ.

Người bi quan không có niềm tin sẽ bỏ lỡ mọi cơ hội, ngược lại, người lạc quan tìm thấy cơ hội ngay trong khó khăn!



 Đâu là giá trị chân thật của con người?
Tìm hiểu giá trị chân thật của con người được ích lợi gì? 
 TK Thích Chân Tuệ
Trong khi bàn về vấn đề giá trị của con người, thông thường người ta có thể xem xét về hai phương diện: vật chất và tinh thần. Về phương diện vật chất, người đời thường đánh giá cao những con người ăn mặc lịch sự, sang trọng, đúng thời trang, những con người sống trong những ngôi nhà cao, cửa rộng, những tòa biệt thự đồ sộ, nguy nga, tráng lệ, những con người đi trên những chiếc xe hơi lộng lẫy, đắt tiền, đầy đủ tiện nghi, những con người rộng rãi, hào phóng, xài tiền như nước. Bên cạnh đó, người đời cũng thường đánh giá cao những con người có sắc đẹp quyến rủ, những con người dung mạo tuyệt trần, những con người có thân hình lực lưỡng, cân đối, những con người khỏe mạnh, tráng kiện, những con người có uy quyền, có thế lực, có danh vọng, những con người có địa vị trong xã hội, những con người có tài sản kếch sù, những con người có nhiều cơ sở làm ăn, buôn bán, kinh doanh khắp nơi, những con người hét ra lửa mửa ra khói, những con người tiền hô hậu ủng, những con người có kẻ ăn người ở, có kẻ hầu người hạ, phục dịch trong ngoài, những con người có sức mạnh vô địch, những con người có võ công tuyệt luân
 
Những con người như vậy sở dĩ được đánh giá cao, bởi vì đó là mục tiêu nhắm đến, là niềm mơ ước đạt được của hầu hết mọi người nam nữ, già trẻ, lớn bé, trên thế gian này. Bằng đủ mọi cách, mọi thứ, mọi phương pháp, mọi phương tiện, mọi mưu mô, mọi kế sách, mọi thủ đoạn, mọi chiến thuật, mọi chiến lược, mọi sách lược, con người trên thế gian này đều chỉ mong đạt được, đoạt được những điều mơ ước đó, dù có phải chà đạp lên sanh mạng hay nhân phẩm của người khác hay nhiều người khác. Lắm khi con người bất chấp sanh mạng và tiền đồ của cả một dân tộc, hay của cả nhân loại trên quả địa cầu này, chỉ vì những tiêu chuẩn giá trị trên đây. Thật thảm thương thay! 
 
Về phương diện tinh thần, người đời thường đánh giá cao những con người có nhiều bằng cấp chuyên môn, những con người có kiến thức rộng rãi, thông thuộc lịch sử đông tây kim cổ, những con người có sự hiểu biết bao quát mọi vấn đề trong cuộc sống, những con người có nhiều năng khiếu đặc biệt, những con người đạt được nhiều thành tích trong mọi lãnh vực, những con người có hình tướng trang nghiêm, đạo mạo, đàng hoàng, bề ngoài đứng đắn, từ tốn, chậm rãi, những con người thực hiện được những chuyện cao cả, những chuyện dị thường, những chuyện huyền bí, những chuyện kinh dị, những chuyện kinh thiên động địa, những chuyện không ai làm nổi, những chuyện không ai tưởng tượng nổi. 
 
Tất cả những con người kể trên được đánh giá là những con người có giá trị trong xã hội. Nói cách khác, giá trị của con người trong thế gian hiện nay được xem xét không ngoài hai phương diện: vật chất và tinh thần. Nếu không giàu sang thì cũng phải tài giỏi.  Nếu không quyền thế thì cũng dòng dõi quý phái, danh gia, vọng tộc.  Nếu không có chức thì cũng phải có bằng. Nếu không tốt tướng, khỏe mạnh, đẹp đẽ, mặn mà thì cũng phải nết na, duyên dáng, thùy mị, đạo đức. Chính vì những tiêu chuẩn qui định giá trị của con người như trên, cho nên cuộc đời trên thế gian này đầy dẫy những bất công, gian trá, phiền não và khổ đau. 
 
Nếu tiêu chuẩn qui định giá trị của con người là tiền tài, của cải, giàu sang thì tức nhiên những con người thuộc giới bình dân sẽ bị khinh khi, chà đạp. Như vậy, nhân phẩm không còn được tôn trọng, nhân quyền không còn được bình đẳng. Những con người không có nhiều tiền tài, của cải, giàu sang thường mang mặc cảm tự ti, thấp kém, dễ tự ái, cho nên lúc nào cũng sẵn sàng phản ứng, đối phó, đôi co, cãi cọ, bực bội, khi "thấy" người khác khinh dể mình, khi "nghe" người khác khinh dể mình, khi "nghi" người khác khinh dể mình. Đôi khi chưa thấy ai khinh dể mình, chỉ nghe thoang thoáng, nghe đồn đại, nghe phong thanh người khác khinh dể mình, hoặc nghi người khác khinh dể mình, thì mình đã nỗi trận lôi đình, nỗi giận đùng đùng, ầm ầm, tam bành lục tặc nỗi lên cuồn cuộn. Bởi vậy mới biết trong lòng mỗi người chúng ta, ai ai cũng đều có một ngọn hỏa diệm sơn cả. 
 
Tâm trạng của những người không có nhiều tiền tài, của cải, giàu sang thường bất an, xáo trộn. Chỉ cần một lời nói, một cử chỉ hay một ý nghĩ "vô ý" nào đó cũng có thể làm bùng nổ những cuộc tranh luận, những cuộc tranh chấp, những cuộc tranh biện, những cuộc tranh đấu, những cuộc cãi vã giữa hai người, giữa hai nhóm người, giữa hai đoàn thể. Và như vậy thường dẫn đến chuyện ấu đả nhau, tìm cách chơi nhau cho đến chết, cho tán gia bại sản, cho sạt nghiệp luôn, cho dẹp tiệm luôn, cho đóng cửa báo luôn, cho tơi bời hoa lá nhà người, cho chúng khỏi ngóc đầu lên nổi. Hoặc con người tìm cách kiện tụng nhau, lôi nhau ra trước ba tòa quan nhớn quan nhỏ, tóc quăn mũi lõ, nhờ phân xử những bạn bè cũ người đồng hương, nếu như lời nói, cử chỉ hay ý nghĩ đó là"cố ý" miệt thị người khác nghèo hơn mình, ít tiền tài hơn mình, miệt thị nhóm người khác ít của cải, ít vốn liếng, ít tiền bạc hơn mình, miệt thị đoàn thể khác ít uy tín hơn đoàn thể mình.
 
Trái lại, những con người nhiều tiền lắm bạc thường kiêu căng, ngạo mạn, phách lối, coi trời bằng nắp vung, dễ gây ác cảm, thù hận đối với mọi người.Những con người thừa tiền lắm của thường có thái độ mục hạ vô nhân, họ nhìn đời bằng nửa con mắt, họ nhìn đời bằng cặp kiếng đen; dù rằng tiền bạc và của cải, họ đang sở hữu, không có xuất xứ trong sạch, không có xuất xứ rõ ràng, minh bạch và thực là không đáng hãnh diện, không đáng khoe khoang, không đáng tự hào chút nào cả!  Chính vì tiêu chuẩn qui định giá trị của con người là tiền tài, của cải, giàu sang, gây nên hậu quả an ninh của xã hội cũng bấp bênh, đạo đức suy đồi, tranh chấp triền miên. 

Cuộc đời đầy dẫy những phiền não và khổ đau, cho cả hai hạng người "có hay không có" tiền tài, của cải, giàu sang. Nếu tiêu chuẩn qui định giá trị của con người là quyền thế, địa vị, chức tước, phẩm hàm, danh giá, kiến thức, bằng cấp, tài năng, thì tức nhiên những con người thuộc giới bình dân sẽ bị khinh khi, chà đạp.  Như vậy, nhân phẩm không còn được tôn trọng, nhân quyền không còn được bình đẳng. Những con người không có quyền thế, địa vị, chức tước, phẩm hàm, danh giá, kiến thức, bằng cấp, tài năng,  thường mang mặc cảm tự ti, thấp kém, dễ tự ái, cho nên lúc nào cũng sẵn sàng phản ứng, đối phó, đôi co, cãi cọ, bực bội, khi "thấy" người khác khinh dể mình, khi "nghe" người khác khinh dể mình, khi"nghi" người khác khinh dể mình.  
(Trích: Giá trị của con người)
TK Thích Chân Tuệ



MÙA VU LAN MÊ TÍN TRÀN LAN
TRĂM NGÀN MUÔN KIẾP KHÔNG DỄ GẶP
Ý NGHIÃ LỄ CẦU NGUYỆN
BIỂU TƯỢNG ĐÈN HOA SEN
BÁT CHÁNH ĐẠO
http://lotus-lantern-canada.blogspot.ca/2016/08/bat-chanh-ao-cu-tran-lac-ao-1.html

CỨU KÍNH CỦA ĐẠO PHẬT - TRÍ TUỆ BÁT NHÃ
HẠNH BỐ THÍ
TÔN GIÁO LÀ MÊ TÍN